máy photocopy , cho thuê máy photocopy , bán máy photocopy , sửa máy photocopy , du lịch hàn quốc , áo đôi

HẠCH TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH HỮU HÌNH THEO MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ LẠI

Đăng lúc: Thứ hai - 19/01/2015 22:20 - Người đăng bài viết: admin
HẠCH TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH HỮU HÌNH
THEO MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ LẠI
ThS Nguyễn Mạnh Hiền
GV, Trưởng Khoa Kế toán -Tài chính
     
    Chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện tại quy định các doanh nghiệp áp dụng mô hình giá gốc để đo lường giá trị tài sản cố định hữu hình. Trong khi đó Chuẩn mực kế toán quốc tế số 16 và dự thảo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 16 đưa ra hai mô hình để doanh nghiệp lựa chọn: Mô hình giá gốc và mô hình đánh giá lại. Bài viết này bàn về việc áp dụng mô hình đánh giá lại trong kế toán tài sản cố định hữu hình sau thời điểm ghi nhận ban đầu và thực tiễn áp dụng mô hình này tại một số quốc gia.


HẠCH TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH MÔ HÌNH THEO ĐÁNH GIÁ LẠI
   
    Theo mô hình đánh giá lại, sau thời điểm ghi nhận ban đầu nếu giá trị hợp lý của tài sản cố định hữu hình có thể đo lường được một cách đáng tin cậy thì doanh nghiệp có thể đánh giá lại tài sản cố định hữu hình. Việc đánh giá lại tài sản cố định hữu hình đảm bảo giá trị còn lại của tài sản sát với giá trị hợp lý của tài sản tại thời điểm đánh giá lại.
Đánh giá tăng TSCĐ lần đầu
     Doanh nghiệp sẽ ghi tăng sản cố định và ghi tăng chênh lệch đánh giá lại tài sản vào thu nhập toàn diện khác thuộc vốn chủ sở hữu (Chênh lệch đánh giá lại tài sản).
Ví dụ 1: Giả sử cuối năm 2011, công ty A mua một căn nhà có trị giá 10 tỷ đồng, thời gian sử dụng 20 năm, công ty khấu hao theo phương pháp đường thẳng. Cuối năm 2013, công ty đánh giá lại căn nhà này có nguyên giá gộp (bao gồm cả khấu hao lũy kế) là 12 tỷ đồng, giá trị còn lại là 10,8 tỷ đồng, thời gian sử dụng không thay đổi so với ban đầu (thời gian sử dụng còn lại sau đánh giá lại là 18 năm).
     Khấu hao lũy kế của căn nhà trước khi đánh giá: 2 x 10 / 20 = 1 tỷ đồng
     Giá trị còn lại của căn nhà trước khi đánh giá: 10 tỷ - 1 tỷ = 9 tỷ đồng.
     Đối với khấu hao lũy kế của TSCĐ được đánh giá lại có 2 cách xử lý: Điều chỉnh theo tỷ lệ thay đổi của nguyên giá gộp hoặc trừ vào nguyên giá của tài sản đánh giá lại. Tùy thuộc vào cách điều chỉnh khấu hao lũy kế sẽ dẫn đến các bút toán kế toán khác nhau.
     + Điều chỉnh khấu hao lũy kế tỷ lệ với nguyên giá gộp sau đánh giá của TSCĐ để giá trị còn lại của TSCĐ sau đánh giá bằng với giá đánh giá lại.
     Trong trường hợp này nguyên giá gộp của tài sản tăng 20% [(12 – 10)/10 = 20%] nên khấu hao lũy kế được điều chỉnh tăng 20%. Do đó:
     Nguyên giá của TSCĐ sau đánh giá lại là 12 tỷ đồng
     Khấu hao lũy kế sau đánh giá lại là 1 x (1 + 20%) = 1,2 tỷ đồng.
     Giá trị còn lại sau đánh giá lại: 12 – 1,2 = 10,8 tỷ đồng
     Chênh lệch điều chỉnh tăng nguyên giá TSCĐ: 12 tỷ – 10 tỷ = 2 tỷ đồng
     Chênh lệch điều chỉnh tăng hao mòn lũy kế TSCĐ: 1,2 tỷ - 1 tỷ = 0,2 tỷ đồng.
     Chênh lệch đánh giá lại TSCĐ: 10,8 tỷ - 9 tỷ = 2 – 0,2 = 1,8 tỷ đồng
Bút toán hạch toán:
Nợ TK Tài sản cố định hữu hình                      2,0 tỷ đồng
      Có TK Chênh lệch đánh giá lại TSCĐ                               2,0 tỷ đồng
Nợ TK Chênh lệch đánh giá lại tài sản           0,2 tỷ đồng
      Có TK Hao mòn TSCĐ hữu hình                                       0,2 tỷ đồng
Kế toán cũng có thể gộp hai bút toán trên lại như sau:
Nợ TK Tài sản cố định hữu hình                      2 tỷ đồng
      Có TK Hao mòn TSCĐ hữu hình                                       0,2 tỷ đồng
      Có TK Chênh lệch đánh giá lại TSCĐ                               1,8 tỷ đồng
+ Khấu hao lũy kế được trừ vào nguyên giá gộp của tài sản và giá trị thuần được báo cáo bằng với giá đánh giá lại của TSCĐ. Khi đó kế toán hạch toán:
Nợ TK Hao mòn TSCĐ hữu hình                     1 tỷ đồng
      Có TK TSCĐ hữu hình                                                        1 tỷ đồng
Nợ TK Tài sản cố định hữu hình                      1,8 tỷ đồng
      Có TK Chênh lệch đánh giá lại TSCĐ                               1,8 tỷ đồng
     Kế toán cũng có thể gộp hai bút toán trên lại như sau:
Nợ TK Tài sản cố định hữu hình          0,8 tỷ đồng
Nợ TK Hao mòn TSCĐ hữu hình         1,0 tỷ đồng
      Có TK Chênh lệch đánh giá lại TSCĐ                   1,8 tỷ đồng
     Sau bút toán này, nguyên giá mới của căn nhà là 10 – 1 + 1,8 = 10,8 tỷ đồng, khấu hao lũy kế bằng 0, giá trị còn lại là 10,8 tỷ đồng. Sau khi đánh giá lại, mức khấu hao hàng năm là 10,8/18 = 0,6 tỷ đồng. Hằng năm trích khấu hao công ty ghi:
Nợ TK Chi phí khấu hao TSCĐ            0,6 tỷ đồng
      Có TK Hao mòn TSCĐ hữu hình                           0,6 tỷ đồng
     So với mức khấu hao cũ, mức khấu hao hàng năm sau đánh giá lại tăng 0,6 tỷ – 0,5 tỷ = 0,1 tỷ đồng. Sự gia tăng về mức khấu hao này công ty có thể hạch toán tăng lợi nhuận chưa phân phối, giảm chênh lệch đánh giá lại tài sản:
Nợ TK Chênh lệch đánh giá lại tài sản           0,1 tỷ đồng
      Có TK Lợi nhuận chưa phân phối                                     0,1 tỷ đồng
Đánh giá giảm TSCĐ lần đầu
      Nếu TSCĐ được đánh giá lại lần đầu và đánh giá giảm thì phần chênh lệch đánh giá giảm này được ghi trực tiếp vào báo cáo lãi, lỗ.
Ví dụ 2: Cũng với số liệu ở ví dụ 1 ở trên, giả sử năm 2013 công ty A đánh giá lại căn nhà có giá trị hợp lý (giá trị còn lại) là 8,1 tỷ đồng. Như vậy TSCĐ này đã được đánh giá giảm: 9 tỷ- 8,1 tỷ = 0,9 tỷ. Công ty A trừ khấu hao lũy kế gộp vào nguyên giá TSCĐ và bút toán như sau.
Nợ TK Hao mòn TSCĐ hữu hình                     1 tỷ đồng
      Có TK TSCĐ hữu hình                                                        1 tỷ đồng
Nợ TK Lỗ do đánh giá lại TSCĐ                      0,9 tỷ đồng
Có TK TSCĐ hữu hình                                                        0,9 tỷ đồng
      Mức khấu hao hàng năm sau đánh giá lại là 8,1/18 = 0,45 tỷ đồng, thấp hơn 0,05 tỷ đồng so với trước khi đánh giá lại.
Đánh giá tăng TSCĐ các lần sau
-       Nếu trước khi đánh giá lại TSCĐ, chênh lệch đánh giá lại của TSCĐ được đánh giá đang được ghi nhận là Thu nhập tổng hợp khác thuộc vốn chủ sở hữu, bút toán phản ánh chênh lệch đánh giá lại tài sản giống như đánh giá tăng lần đầu: chênh lệch đánh giá lại tài sản được ghi tăng Thu nhập tổng hợp khác (ghi tăng Chênh lệch đánh giá lại tài sản thuộc vốn chủ sở hữu).
Ví dụ 3: Giả sử năm 2013 công ty A đánh giá tăng nhà cửa như ở ví dụ 1. Năm 2015, công ty A đánh giá lại căn nhà trên có giá trị còn lại 10,56 tỷ đồng. Giá trị còn lại của căn nhà trước khi đánh giá lại là 10,8 – 0,6 x 2 = 9,6 tỷ đồng. Như vậy ngôi nhà được đánh giá tăng 10,56 – 9,6 = 0,96 tỷ đồng. Nếu công ty áp dụng phương pháp xóa giá trị hao mòn lũy kế vào nguyên giá của tài sản thì bút toán hạch toán như sau:
Nợ TK Hao mòn TSCĐ hữu hình         1,2 tỷ đồng
      Có TK TSCĐ hữu hình                                            1,2 tỷ đồng
Nợ TK Tài sản cố định hữu hình          0,96 tỷ đồng
      Có TK Chênh lệch đánh giá lại TSCĐ                   0,96 tỷ đồng
Sau các bút toán này, nguyên giá của căn nhà sẽ là: 10,8 – 1,2 + 0,96 = 10,56 tỷ đồng.
-       Nếu trước khi đánh giá lại, TSCĐ đã được đánh giá giảm và phần ghi vào báo cáo lãi lỗ chưa được hoàn nhập hết, kế toán hoàn nhập phần đã ghi vào báo cáo lãi lỗ chưa được hoàn nhập, phần còn lại ghi tăng chênh lệch đánh giá lại tài sản.
Ví dụ 4: Giả sử năm 2013 công ty A đánh giá giảm nhà cửa như ở ví dụ 2. Năm 2015, công ty A đánh giá lại nhà cửa có giá trị còn lại là 8,4 tỷ đồng. Giá trị còn lại của nhà cửa trên sổ sách trước khi đánh giá lại là: 8,1 – 2 x 0,45 = 7,2 tỷ đồng. Như vậy nhà cửa đã được đánh giá tăng 8,4 – 7,2 = 1,2 tỷ đồng. Phần đã ghi vào báo cáo lãi lỗ chưa được hoàn nhập đến trước thời điểm đánh giá lại là 0,9 tỷ đồng. Do đó chênh lệch 0,9 tỷ đồng sẽ được trừ vào khoản lỗ do đánh giá lại chưa được hoàn nhập, phần chênh lệch đánh giá tăng còn lại 0,3 tỷ đồng sẽ được ghi vào Thu nhập tổng hợp khác thuộc vốn chủ sở hữu (Chênh lệch đánh giá lại tài sản). Nếu công ty áp dụng phương pháp xóa giá trị hao mòn lũy kế vào nguyên giá của tài sản thì bút toán hạch toán như sau:
Nợ TK Tài sản cố định hữu hình          0,3 tỷ đồng
Nợ TK Hao mòn TSCĐ hữu hình         0,9 tỷ đồng
      Có TK Lỗ do đánh giá lại TSCĐ                            0,9 tỷ đồng
      Có TK Chênh lệch đánh giá lại TSCĐ                   0,3 tỷ đồng
Đánh giá giảm TSCĐ các lần sau
-       Nếu trước khi đánh giá giảm TSCĐ không còn số dư chênh lệch đánh giá lại TSCĐ được ghi vào Thu nhập tổng hợp khác thuộc vốn chủ sở hữu, kế toán hạch toán tương tự như đánh giá giảm lần đầu để phản ánh phần chênh lệch đánh giá giảm này vào khoản lỗ do đánh giá lại tài sản trên báo cáo lãi, lỗ.
Ví dụ 5: Giả sử năm 2013 công ty A đánh giá giảm nhà cửa như ở ví dụ 2. Năm 2015, công ty A đánh giá lại nhà cửa có giá trị còn lại là 6,8 tỷ đồng. Giá trị còn lại của nhà cửa trước khi đánh giá lại là: 8,1 – 2 x 0,45 = 7,2 tỷ đồng. Như vậy nhà cửa đã được đánh giá giảm 7,2 – 6,8 = 0,4 tỷ đồng. Nếu công ty áp dụng phương pháp xóa giá trị hao mòn lũy kế vào nguyên giá của tài sản thì bút toán hạch toán như sau:
Nợ TK Hao mòn TSCĐ hữu hình         0,9 tỷ đồng
Nợ TK Lỗ do đánh giá lại TSCĐ          0,4 tỷ đồng
      Có TK TSCĐ hữu hình                                            1,3 tỷ đồng
-       Nếu trước khi đánh giá giảm TSCĐ còn số dư chênh lệch đánh giá lại TSCĐ được ghi vào Thu nhập tổng hợp khác thuộc vốn chủ sở hữu (Chênh lệch đánh giá lại tŕi sản) thě phần chęnh lệch đánh giá giảm trước hết được bù trừ với số dư của tài khoản chênh lệch đánh giá lại tài sản, phần còn lại được đưa vào báo cáo lãi, lỗ.
Ví dụ 6: Giả sử năm 2013 công ty A đánh giá tăng nhà cửa như ở ví dụ 1. Năm 2015, công ty A đánh giá lại căn nhà trên có giá trị còn lại 7,5 tỷ đồng. Giá trị còn lại của căn nhà trước khi đánh giá lại là 10,8 – 0,6 x 2 = 9,6 tỷ đồng. Như vậy ngôi nhà được đánh giá giảm 9,6 – 7,5 = 2,1 tỷ đồng. Phần số dư chênh lệch đánh giá lại tài sản này đang được phản ánh trên Tài khoản Chênh lệch đánh giá lại tài sản là 1,8 tỷ đồng. Do đó tổng chênh lệch đánh giá lại tài sản này sau khi trừ số dư tài khoản chênh lệch đánh giá lại tài sản được ghi vào báo cáo lãi lỗ là: 2,1 – 1,8 = 0,3 tỷ đồng.       Nếu công ty áp dụng phương pháp xóa giá trị hao mòn lũy kế vào nguyên giá của tài sản thì bút toán hạch toán như sau:
Nợ TK Hao mòn TSCĐ hữu hình                     1,2 tỷ đồng
Nợ TK Lỗ do đánh giá lại TSCĐ                      0,3 tỷ đồng
Nợ TK Chênh lệch đánh giá lại tài sản           1,8 tỷ đồng
      Có TK TSCĐ hữu hình                                            3,3 tỷ đồng
 
THỰC TẾ ÁP DỤNG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ LẠI TSCĐ HỮU HÌNH TẠI CÁC NƯỚC
      Việc áp dụng giá gốc hay giá trị hợp lý trong kế toán là một vấn đề tranh cãi từ lâu và chưa đến hồi kết. Chuẩn mực kế toán quốc tế cho phép các doanh nghiệp áp dụng giá trị hợp lý đối với cả các tài sản tài chính và một số tài sản phi tài chính (như TSCĐ hữu hình, bất động sản đầu tư, tài sản sinh học). Chuẩn mực kế toán quốc tế và một số quốc gia cho phép áp dụng phương pháp giá trị hợp lý bởi vì trong thập kỷ 70 của thế kỷ XX, lạm phát ở các nước phát triển khá cao và việc đánh giá lại các bất động sản dài hạn được xem là một cách thức hợp lý để điều chỉnh các ảnh hưởng của lạm phát.
      Có nhiều động cơ để các công ty đánh giá tăng đối với các tài sản cố định như: (1) giúp các công ty tránh việc vi phạm các cam kết vay, dễ dang vay vốn hơn; (2) tránh bị thâu tóm do tài sản của công ty và cổ phiếu bị định giá quá thấp; (3) giảm suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu và suất sinh lợi trên tài sản để tránh các chi phí chính trị; (4) để thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận; (5) để phản ánh giá trị hợp lý tài sản của công ty, giúp bức tranh về tình trạng tài chính tốt hơn (Missonier-Piera, 2007). Tuy nhiên trong thực tế rất ít các công ty áp dụng mô hình đánh giá lại này, thông thường là do chi phí để thuê các tổ chức định giá độc lập để xác định giá trị thị trường của các tài sản là quá tốn kém. Nghiên cứu của Cairns và các cộng sự (2011) chỉ ra rằng chỉ có 5% các công ty Anh và 11% các công ty Úc thực hiện đánh giá lại TSCĐ theo chuẩn mực kế toán của Anh, Úc và chỉ có 2% các công ty Anh, 8% các công ty Úc đánh giá lại TSCĐ theo chuẩn mực kế toán Úc. Các công ty chỉ thực hiện đánh giá lại với bất động sản mà không thực hiện đánh giá lại với máy móc, thiết bị. Một số công ty Anh, Úc khi chuyển từ áp dụng chuẩn mực kế toán của Anh, Úc sang áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế đã bỏ không còn áp dụng mô hình đánh giá lại. So với các nghiên cứu trước đây thì số lượng các công ty áp dụng mô hình giá trị hợp lý đã giảm đi. Nghiên cứu của Christensen vàNikolaev (2012) với mẫu gồm 1.539 công ty của Anh và Đức cho thấy rằng chỉ khoảng 3% các công ty áp dụng mô hình đánh giá lại đối với TSCĐ.
     Như vậy qua tham khảo kinh nghiệm thế giới cho thấy rằng khả năng các công ty Việt Nam áp dụng mô hình đánh giá lại TSCĐ là không cao. Nguyên nhân đầu tiên đó là do chi phí để thực hiện việc này khá tốn kém và ở Việt Nam còn thiếu các tổ chức định giá độc lập có uy tín để có thể thực hiện việc định giá các TSCĐ. Nguyên nhân nữa có thể kể đến là do giá trị của thông tin do việc đánh giá lại không thật sự cao và xu hướng của thế giới áp dụng phương pháp này là không nhiều. Tuy nhiên cần có các nghiên cứu tiếp theo sau khi Việt Nam áp dụng mô hình đánh giá lại tài sản để kiểm chứng các nhận định trên.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.      Cairns, D., Massodi D., Taplin R. & Tarca A. (2011), “IFRS fair value measurement and accounting policy choice in the United Kingdom and Australia”, The British Accounting Review, 43, pp. 1 – 21.
2.      Christensen H., & Nikolaev V. (2012), “Who uses fair value accounting for non-financial assets after IFRS adoption?” University of Chicago Booth School of Business. Working paper, no. 09-12.
3.      IASB (2011), International Accounting Standard 16.
4.      Missonier-Piera F. (2007), “Movites for fixed-asset revaluation: An empirical analysis with Swiss data”, The International Journal of Accounting, 42, pp. 186 – 205.
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 9 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc